Phát động nông dân tập trung phòng trừ sâu bệnh bảo vệ lúa xuân
Hiện nay, lúa Xuân trên địa bàn xã Ái Quốc đang bước vào giai đoạn phân hóa đòng – làm đòng, là thời kỳ có ý nghĩa quyết định đến năng suất và sản lượng cuối vụ. Nhìn chung, các trà lúa, giống lúa sinh trưởng phát triển tốt, tương đối đồng đều. Tuy nhiên, qua kiểm tra của cán bộ Bảo vệ thực vật và các Hợp tác xã, trên đồng ruộng đã xuất hiện một số đối tượng sâu bệnh có nguy cơ gây hại mạnh như: sâu cuốn lá nhỏ, rầy các loại, bệnh đạo ôn hại lá, bệnh khô vằn…

1. Sâu cuốn lá nhỏ
Vụ Xuân năm 2026, sâu cuốn lá nhỏ lứa 1 có mật độ thấp hơn so với cùng kỳ năm 2025, phân bố không đồng đều. Trên diện tích cấy trước ngày 10/2, mật độ trung bình 0,03–0,06 con/m², nơi cao 0,1–0,2 con/m², cục bộ 0,5–1 con/m².
Hiện nay, trưởng thành lứa 2 ra rộ từ đầu tháng 4. Dự báo sâu non lứa 2 nở rộ từ ngày 10–15/4/2026, mật độ trung bình 30–70 con/m², nơi cao 100–150 con/m², cục bộ 200–300 con/m². Sâu gây hại trực tiếp vào lá công năng, lá đòng, ảnh hưởng lớn đến năng suất nếu không phòng trừ kịp thời.
2. Rầy các loại
Rầy trưởng thành hiện có mật độ phổ biến 1–3 con/m², nơi cao 5–7 con/m², cá biệt 10–20 con/m². Rầy non mật độ nơi cao 100–300 con/m², cục bộ 500–700 con/m² và có xu hướng tiếp tục gia tăng trong những ngày tới. Nếu không phòng trừ tốt, rầy có thể gây cháy rầy sau ngày 20/4 và là môi giới truyền virus gây bệnh lùn sọc đen, đặc biệt trên diện tích cấy muộn.
3. Bệnh đạo ôn
Bệnh xuất hiện trên các giống nhiễm như: BC15, TBR225, Đài thơm, Nếp… với tỷ lệ phổ biến 1–3%, nơi cao 5–10%, cục bộ 20–40%, cá biệt đã có ổ bệnh gây lùn lụi. Dự báo bệnh tiếp tục phát sinh, gây hại mạnh trong điều kiện thời tiết ẩm, nếu không được phòng trừ hiệu quả.
4. Bệnh khô vằn
Bệnh phát sinh từ đầu tháng 4 đến nay, tỷ lệ trung bình 1–3%, nơi cao 5–7%, cục bộ 20–30%. Dự báo bệnh sẽ tiếp tục gây hại mạnh từ nay đến cuối vụ, nhất là trên các chân ruộng bón thừa đạm, mật độ dày.

Biện pháp chăm sóc và phòng trừ
Về chăm sóc:
Đảm bảo giữ nước nông trên ruộng từ 5–7 cm.
Đối với lúa giai đoạn đứng cái – làm đòng: bón bổ sung 3–5 kg kali/sào.
Không sử dụng đạm đơn để bón, đặc biệt là giai đoạn cuối vụ, nhằm hạn chế sâu bệnh phát sinh gây hại.
Về phòng trừ sâu bệnh:
- Sâu cuốn lá nhỏ
Phòng trừ khi mật độ từ 20 con/m² trở lên (giai đoạn đứng cái – làm đòng), từ 50 con/m² trở lên (giai đoạn đẻ nhánh).
Đối với diện tích có mật độ từ 200 con/m² trở lên, sau phun 5 ngày phải kiểm tra lại; nếu vẫn trên ngưỡng cần tổ chức phun lại ngay.
Khuyến cáo sử dụng: Incipio 200SC, Ammate 150EC,…
- Rầy các loại:
Phòng trừ khi mật độ từ 1000 con/m² trở lên, có thể kết hợp phòng trừ cùng sâu cuốn lá nhỏ.
Sử dụng: Chess 50WG, Cheray 700WP, Midan 10WP,…
- Bệnh đạo ôn
Thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, chú ý các giống nhiễm.
Khi tỷ lệ bệnh từ 3% trở lên, cần phun ngay bằng các thuốc: Filia 525SE, Trizim 650WP, Bump 650WP,…
- Bệnh khô vằn:
Phòng trừ khi tỷ lệ bệnh từ 5% số khóm trở lên.
Sử dụng: Anvil 5SC, Vivil 5SC,…
Thời gian phòng trừ
Tập trung phun phòng trừ sâu bệnh từ ngày 11 đến 13/4/2026 để đạt hiệu quả cao nhất.
UBND xã chỉ đạo các Hợp tác xã Tây Phong, Tây Tiến, Tây Giang: Tăng cường chỉ đạo nông dân điều tiết nước hợp lý, đảm bảo đủ nước phục vụ phòng trừ sâu bệnh; Hướng dẫn kỹ thuật, cung ứng đầy đủ vật tư, thuốc bảo vệ thực vật theo đúng khuyến cáo của ngành chuyên môn; Chủ động thông tin kịp thời để nhân dân thuận tiện trong việc triển khai các biện pháp phòng trừ.
Trong giai đoạn hiện nay, điều kiện thời tiết thuận lợi cho sâu bệnh phát sinh và gây hại. Vì vậy, bà con nông dân xã Ái Quốc cần nâng cao tinh thần chủ động, thường xuyên thăm đồng, phát hiện sớm và xử lý kịp thời, góp phần bảo vệ năng suất, chất lượng lúa vụ Xuân năm 2026
